Khác với hầu hết các nước trên thế giới nơi mà chỉ cấp bảo hộ cho nhãn hiệu xin đăng ký nếu nó thỏa mãn đồng thời cả 2 điều kiện (a) khả năng tự phân biệt (căn cứ từ chối tuyệt đối), và (b) không tương tự gây nhầm lẫn với quyền có trước (căn cứ từ chối tương đối), EUIPO chỉ thẩm định duy nhất điều kiện (a) - khả năng tự phân biệt. Hệ quả của sự khác biệt này là EUIPO có thể công nhận sự tồn tại hợp pháp của 2 nhãn hiệu trùng gắn liền với sản phẩm trùng của 2 chủ nhãn hiệu khác nhau trừ khi có phản đối của bên thứ ba. Bross & Partners giới thiệu vài thực tiễn khác biệt này ở EUIPO.
Gần như mọi dấu hiệu đều có thể đăng ký làm nhãn hiệu ở EU
Nhìn chung mọi dấu hiệu (chữ, chữ số, chữ cái, từ, cụm từ, thiết kế, hình ảnh, hình 3 chiều,[1] dấu hiệu âm thanh, dấu hiệu chuyển động, dấu hiệu đa phương tiện) đều có thể đăng ký làm nhãn hiệu ở EU miễn là chúng có chức năng chỉ dẫn nguồn gốc thương mại của sản phẩm hoặc dịch vụ.[2] Ví dụ:

Dấu hiệu bị từ chối tuyệt đối bởi EUIPO
Các dấu hiệu không có chức năng chỉ dẫn nguồn gốc, hay còn gọi là không có tính phân biệt, hoặc còn gọi là không có chức năng nhãn hiệu sẽ bị từ chối bảo hộ bởi EUIPO. Ví dụ:



5 thực tiễn xét nghiệm nhãn hiệu ở EUIPO đáng lưu ý
Dù đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp trực tiếp tại EUIPO (thông qua luật sư được hành nghề trước EUIPO) nếu bạn chọn phương thức đăng ký toàn bộ lãnh thổ 27 nước EU (tạm gọi là “đơn đăng ký quốc gia”), hoặc được nộp theo phương thức đăng ký quốc tế chỉ định EU làm một thành viên của đơn đăng ký quốc tế theo Hệ thống Madrid (“đơn đăng ký quốc tế”) thì EUIPO đều áp dụng chung 5 nguyên tắc thẩm định đáng chú ý dưới đây:
- Khác hẳn với Việt Nam và các nước khác, EUIPO chỉ xét nghiệm trên cơ sở từ chối tuyệt đối, nghĩa là EUIPO chỉ xét nghiệm xem nhãn hiệu xin đăng ký theo đơn đăng ký quốc gia hoặc đơn đăng ký quốc tế có rơi vào một trong các trường hợp dấu hiệu bị từ chối tuyệt đối như đã nêu trên hay không.
- Bên phản đối (bên thứ 3) là chủ nhãn hiệu đăng ký trước ở EUIPO, hoặc chủ nhãn hiệu đăng ký trước ở Cơ quan nhãn hiệu thuộc các nước thành viên của EU (ví dụ Cơ quan sáng chế và nhãn hiệu liên bang Đức – GPMA) buộc phải tự theo dõi nhãn hiệu xin đăng ký mà đã được EUIPO xét nghiệm và chấp thuận công bố để kịp thời phản đối hoặc hủy bỏ hiệu lực của nhãn hiệu này.
- Thời hạn để bên thứ 3 nộp đơn phản đối chống lại nhãn hiệu xin đăng ký theo đơn đăng ký quốc gia là 3 tháng kể từ ngày EUIPO công bố đơn đăng ký nhãn hiệu. Đối với đơn đăng ký quốc tế, đơn phản đối phải được nộp giữa tháng 1 và tháng thứ 4 sau ngày EUIPO công bố lại đơn đăng ký quốc tế trên công báo EUTM Bulletin Part M.1.[1] Ví dụ: ngày đầu tiên công bố lại là 15/02/2017 thì thời hạn phản đối bắt đầu vào ngày 15/03/2017 và kết thúc vào ngày 15/06/2017.
- Bên thứ ba chỉ có thể phản đối đơn đăng ký quốc gia hoặc đơn đăng ký quốc tế nộp tại EUIPO dựa trên căn cứ từ chối tương đối (không được phép phản đối dựa trên căn cứ từ chối tuyệt đối). Nếu nhãn hiệu có trước của bên phản đối trùng với nhãn hiệu xin đăng ký của người nộp đơn và hàng hóa, dịch vụ mang các nhãn hiệu này trùng nhau thì bên thứ ba được miễn nghĩa vụ chứng minh nhãn hiệu xin đăng ký tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu có trước của bên thứ ba (double identity).[2] Trường hợp trùng/tương tự về nhãn hiệu nhưng khác về sản phẩm thì EUIPO chỉ chấp nhận đơn phản đối nếu bên phản đối chứng minh được rằng nhãn hiệu xin đăng ký có khả năng gây nhầm lẫn với nhãn hiệu có trước của bên phản đối (likelihood of confusion).
- Đơn phản đối thành công dẫn tới hệ quả là EUIPO từ chối nhãn hiệu xin đăng ký ở toàn bộ EU. Như vậy, cả đơn đăng ký quốc gia và đơn đăng ký quốc tế ở EUIPO đều có thể gặp rủi ro bị từ chối toàn bộ nếu xuất hiện bên thứ ba phản đối dựa trên nhãn hiệu có trước của người này đã đăng ký với cơ quan sở hữu trí tuệ ở bất kỳ 1 trong 27 nước thành viên của EU.
