“Tác phẩm được thuê làm” [Work made for hire] có nghĩa là quyền tác giả không thuộc về tác giả
Quyền tác giả có thể được hiểu là quyền độc quyền làm bản sao và quyền độc quyền kiểm soát bản gốc tác phẩm văn học nghệ thuật khoa học (tác phẩm báo chí, điện ảnh, kiến trúc, phần mềm, mỹ thuật ứng dụng,…) khi bị sao chép, công bố, cắt, ghép, trích dẫn, truyền đạt, biểu diễn hoặc biến đổi mà không có sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Quyền tác giả được pháp luật bảo hộ trong một thời hạn nhất định (thường là 50 năm sau khi tác giả qua đời). Biểu tượng chữ C trong vòng tròn © thường hay xuất hiện trên các ấn phẩm là ký hiệu cảnh báo công chúng về tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Tuy nhiên, luật pháp không yêu cầu phải có ký hiệu © trên tác phẩm thì quyền tác giả mới được bảo hộ.
Thông thường chỉ tác giả hoặc những người được hưởng lợi từ tác giả mới có tư cách thụ hưởng quyền tác giả. Tuy nhiên, có một ngoại lệ của quy tắc này, ví dụ theo Luật bản quyền của Hoa Kỳ, là quyền tác giả đối với “work made for hire” (tạm dịch sang tiếng Việt là “tác phẩm được thuê làm”) thuộc về người sử dụng lao động (có thể là cá nhân hoặc tổ chức) dù việc sáng tạo ra tác phẩm đó chỉ do người lao động thực hiện.[1]
“Tác phẩm được thuê làm” còn được Hoa Kỳ công nhận dưới dạng hợp đồng đặt hàng hoặc thuê khoán nếu nó thỏa mãn 2 điều kiện: (1) tác phẩm đó thuộc 1 trong 9 loại tác phẩm (ví dụ: bản dịch; tác phẩm bổ trợ như minh họa, bình luận, mở đầu,…; tác phẩm biên soạn; một phần của tác phẩm điện ảnh); và (2) các bên cùng thỏa thuận bằng văn bản được ký bởi chính họ rằng tác phẩm đó được xem là “tác phẩm được thuê làm”.[2]
Như vậy, hiểu theo cách đơn giản hơn nếu bạn đang làm thuê cho một cá nhân hoặc tổ chức bằng hợp đồng lao động thì mọi thứ sáng tạo trí tuệ mà bạn tạo ra, nếu thuộc phạm vi công việc của hợp đồng lao động, như phần mềm, bài viết, bản nhạc, bản ghi hình, ghi âm, bức tranh, bài báo, hoặc các sáng tạo trí tuệ khác đều tự động thuộc quyền sở hữu của ông bà chủ của bạn chứ không thuộc về bạn ngay từ thời điểm bạn tạo ra nó.
Ngộ nhận về “tác phẩm được thuê làm” và rủi ro pháp lý
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam khi ký kết hợp đồng thầu khoán với cá nhân, tổ chức về việc sáng tác một tác phẩm nào đó thường ngộ nhận rằng vì pháp luật quy định tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm thì họ có quyền thụ hưởng toàn bộ bản quyền đối với tác phẩm đó do họ là chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm đó. Điều này dẫn tới các doanh nghiệp này tin rằng bất kỳ một cá nhân nào đó thuộc doanh nghiệp của mình đều có thể đứng tên làm tác giả thay vì tác giả đích thực. Cần lưu ý rằng “tác phẩm được thuê làm” tồn tại dưới dạng một doanh nghiệp giao nhiệm vụ cho tác giả thuộc doanh nghiệp của mình, hoặc một doanh nghiệp giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm thực chất đều không phải là “tác phẩm được thuê làm” theo nghĩa của Điều 101 của Luật bản quyền Hoa Kỳ năm 1976 vì Việt Nam không cho phép chuyển nhượng quyền nhân thân (trừ quyền công bố) và Việt Nam cũng chưa bao giờ công nhận tác giả là pháp nhân.
Ngộ nhận về cái gọi là “tác phẩm được thuê làm” có thể dẫn tới nhiều rủi ro pháp lý. Một trong những rủi ro pháp lý đáng quan ngại nhất là khả năng tác giả đích thực có thể khởi kiện xâm phạm quyền nhân thân, chẳng hạn như xâm phạm quyền đặt tên tác phẩm hoặc xâm phạm quyền nêu tên vì việc không nêu tên tác giả thật đối với tác phẩm là trái với quy định của pháp luật Việt Nam.[3]
